Menu

OLED là gì?

[​IMG]
Bạn hãy tưởng tượng có một chiếc TV độ phân giải cao với kích thước 80 inch nhưng chỉ dày vài mm, tiêu thụ ít điện năng hơn hầu hết các loại TV có trên thị trường hiện nay, và có thể cuộn lại được khi bạn không dùng nó. Nếu như bạn có một màn hiển thị (head-up display) trên kính chiếc xe ô tô của bạn và còn cả những màn hình được tích hợp vào quần áo của bạn? Những thiết bị này sẽ có thể thành hiện thực trong tương lai gần với sự trợ giúp của một công nghệ gọi là OLED (Organic Light-Emitting Diode: Diode phát sáng hữu cơ).

Các OLED là các thiết bị thể rắn cấu tạo từ các tấm phim mỏng làm từ các hợp chất hữu cơ. Tấm phim này sẽ phát ra ánh sáng khi được cung cấp điện năng. OLED có thể tạo ra những hình ảnh sáng và rõ nét hơn nhưng lại tiêu thụ ít điện năng hơn các công nghệ màn hình LED (Light-Emitting Diode: Diode phát quang) hay LCD (Liquid Crystal Display: Màn hình tinh thể lỏng) hiện tại.

Ai tạo ra OLED?
Các quan sát đầu tiên của điện phát trong vật liệu hữu cơ là trong đầu những năm 1950 bởi André Bernanose và đồng nghiệp tại Nancy- Đại học , Pháp . Họ đã áp dụng cao áp xoay chiều ( AC ) các lĩnh vực hiện tại trong không khí để các vật liệu như acridine cam, hoặc được lắng động hay hòa tan trong xenlulo hoặc giấy bóng kính màng mỏng . Cơ chế đề xuất đã được hoặc là kích thích trực tiếp của các phân tử thuốc nhuộm hoặc kích thích các điện tử.
Năm 1960 , Martin Pope và các đồng nghiệp tại Đại học New York phát triển ohmic điện tử tối liên lạc với phân tử hữu cơ (dark-injecting electrode contacts to organic crystals.) Họ cũng mô tả các yêu cầu năng lượng cần thiết ( chức năng làm việc ) cho lỗ và điện tử điện tiêm chích . Những địa chỉ liên lạc là cơ sở của trong tất cả các thiết bị màn hình OLED hiện đại . Nhóm của Pope cũng lần đầu tiên quan sát trực tiếp được ( DC ) điện tử phát hiện dưới chân không trên một đơn tinh thể tinh khiết của anthracene và trên tinh thể anthracene pha tạp với tetracene vào năm 1963 sử dụng một điện cực bạc diện tích nhỏ tại 400 V.
Thiết bị diode đầu tiên được báo cáo tại Eastman Kodak bởi Ching W. Tang và Steven Van Slyke trong năm 1987. [Thiết bị này sử dụng một cuốn tiểu thuyết cấu trúc hai lớp với vận chuyển lỗ riêng biệt và lớp vận chuyển điện tử như vậy mà tái tổ hợp và phát xạ ánh sáng giữa lớp hữu cơ. Điều này dẫn đến việc giảm điện áp hoạt động và cải thiện hiệu quả và dẫn đến thời đại hiện nay của nghiên cứu màn hình OLED và thiết bị sản xuất .
Nghiên cứu polymer điện phát lên đến đỉnh điểm vào năm 1990 với JH Burroughes et al. tại Phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge báo cáo hiệu suất phát sáng màu xanh lá cây polymer dựa trên thiết bị cao sử dụng 100 nm màng dày của poly ( p-phenylene vinylene ) .
[​IMG]
Tuy nhiên trước đó, Các OLED đầu tiên phát minh độc lập bởi các nhà khoa học của Kodak vào năm 1987 sử dụng các phân tử hữu cơ nhỏ. Mặc dù các phân tử nhỏ phát ra ánh sáng mạnh, các nhà khoa học phải lắng đọng chúng lên các tấm nền trong chân không khá tốn kém.
Như vậy, quá trình phát triển công nghệ OLED cho tới mức như hiện nay vô cùng khó khăn và tốn kém. Đủ để cho các bạn hình dung sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ như thế nào?

Chế tạo OLED
Thiết lập cho máy in phun độ chính xác cao để tạo ra các OLED polymer (ảnh của Philips)
Công đoạn phức tạp nhất của việc chế tạo các OLED là khi đặt các lớp hữu cơ lên tấm nền. Công đoạn này có thể được thực hiện theo 3 cách:

  • Lắng đọng chân không hay bốc hơi nhiệt chân không - Trong một buồng chân không, các phân tử hữu cơ được đốt nóng nhẹ (làm bốc hơi) và sẽ được ngưng tụ thành các tấm phim mỏng trên các tấm nền lạnh. Quá trình này khá tốn kém và không hiệu quả.
  • Lắng đọng pha hơi hữu cơ (organic vapor phase deposition - OPVD): trong một buồng phản ứng áp suất thấp có tường nóng, một chất khí vận chuyển sẽ truyền tải các phân tử hữu cơ bốc hơi tới các tấm nền lạnh, tại đó chúng ngưng tụ thành các tấm phim mỏng. Sử dụng một chất khí vận chuyển sẽ tăng tính hiệu quả và giảm giảm giá thành chế tạo các OLED.
  • In phun mực (inkject printing) - với công nghệ phun mực, các OLED được phun rải lên các tấm nền giống như mực được phun rải lên trên giấy trong khi in. Công nghệ phun mực giúp giảm đáng kể giá thành sản xuất các OLED và cho phép các OLED được in lên trên các tấm film lớn tức là có thể tạo ra các màn hiển thị rất lớn như các màn hình TV 80 inch hay các bảng thông báo điện tử.
Các OLED phát sáng như thế nào?
Các OLED phát ra ánh sáng theo cách giống với các đèn LED. Quá trình này gọi là sự phát lân quang điện tử (electrophosphoresence).
[​IMG]

Quá trình này xảy ra như sau:

  1. Nguồn điện cung cấp một dòng điện cho OLED.
  2. Một dòng các electron chạy từ cathode qua các lớp hữu cơ tới anode:
    1. Cathode sẽ truyền các electron cho lớp các phân tử hữu cơ phát quang.
    2. Anode sẽ lấy các electron từ lớp các phân tử hữu cơ dẫn (điều này giống với việc truyền các lỗ trống mang điện dương cho lớp dẫn).
  3. Tại biên giữa lớp phát quang và lớp dẫn, các electron gặp các lỗ trống:
    1. Khi một electron gặp một lỗ trống, nó sẽ tái hợp với lỗ trống này (hay nó rơi vào mức năng lượng của nguyên tử lỗ trống bị mất một electron).
    2. Khi sự tái hợp xảy ra, electron tái hợp sẽ tạo ra một năng lượng dưới dạng một photon ánh sáng.
  4. OLED phát ra ánh sáng.
Màu của ánh sáng phụ thuộc vào kiểu phân tử hữu cơ của lớp phát quang. Các nhà sản xuất thường đặt một vài loại film hữu cơ trên cùng một OLED để tạo ra các ánh sáng màu khác nhau. Cường độ hay độ sáng của ánh sáng phụ thuộc vào lượng điện cung cấp. Lượng điện càng lớn, ánh sáng càng sáng hơn.
OLED phân tử nhỏ và OLED polymer
Các OLED đầu tiên phát minh bởi các nhà khoa học của Kodak vào năm 1987 sử dụng các phân tử hữu cơ nhỏ. Mặc dù các phân tử nhỏ phát ra ánh sáng mạnh, các nhà khoa học phải lắng đọng chúng lên các tấm nền trong chân không khá tốn kém.

Kể từ năm 1990, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phân tử polymer để phát sáng. Các polymer ít tốn kém hơn và có thể chế tạo thành các tấm lớn, do đó chúng phù hợp hơn cho các màn hiển thị lớn.

Các loại màn hình OLED
Hiện nay có một số loại OLED sau:
  • OLED ma trận thụ động (passive-matrix OLED)
  • OLED ma trận chủ động (active-matrix OLED)
  • OLED trong suốt (transparent OLED)
  • OLED phát sáng đỉnh (top-emitting OLED)
  • OLED gấp được (foldable OLED)
  • OLED trắng (white OLED)
Mỗi loại này có những công dụng khác nhau.

OLED ma trận thụ động (PMOLED)
PMOLED có các dải cathode, các dải lớp hữu cơ và các dải anode. Các dải anode được xếp vuông góc với các dải cathode. Phần giao nhau giữa cathode và anode tạo thành các pixel (điểm ảnh) tại đó ánh sáng được phát ra. Mạch điện bên ngoài cung cấp dòng điện cho các dải anode và cathode nào đó được chọn để làm cho những pixel nhất định sẽ phát sáng còn các pixel khác thì không. Một lần nữa, độ sáng của mỗi pixel sẽ tỷ lệ với độ lớn của dòng điện.
[​IMG]
Các PMOLED dễ chế tạo nhưng chúng lại tiêu thụ nhiều điện năng hơn các loại OLED khác, chủ yếu là do nguồn điện cần cho mạch điện ngoài. Các PMOLED có hiệu quả nhất cho việc hiển thị văn bản hay các biểu tượng và rất phù hợp cho các màn hình nhỏ (2 đến 3 inch) chẳng hạn như các màn hình của điện thoại di động, PDA hay máy nghe nhạc MP3. Ngay cả với mạch điện ngoài, các OLED ma trận thụ động cũng tiêu thụ ít điện năng hơn các màn LCD được dùng rất phổ biến ở các thiết bị này.

OLED ma trận chủ động (AMOLED)
AMOLED có đầy đủ các lớp cathode, lớp phân tử hữu cơ và lớp anode. Tuy nhiên lớp anode sẽ phủ lên một tấm mạng lưới các transitor film mỏng (thin film transitor hay TFT) tạo thành một ma trận các pixel. Bản thân tấm TFT là một mạch điện để xác định những pixel nào sẽ được bật để tạo ra hình ảnh.
[​IMG]
AMOLED tiêu thụ ít điện năng hơn PMOLED bởi vì lớp TFT cần ít điện hơn mạch điện ngoài, do đó chúng rất phù hợp cho các màn hình lớn. AMOLED cũng có tốc độ làm tươi nhanh hơn nên phù hợp cho video. AMOLED được dùng tốt nhất cho màn hình máy tính, các TV màn hình lớn và các bảng tín hiệu hay thông báo điện tử.
Super Amoled và Super Amoled Plus
Điểm khác biệt duy nhất của Super Amoled Plus so với Super AMOLED là sự sắp xếp các ma trận điểm ảnh, đã đưa OLED trở lại với đúng giá trị hiện tại của nó. Màn hình AMOLED/Super AMOLED do Samsung phát minh (hãy nhớ, có Super nhé) được chế tao theo ma trận điểm ảnh Pen Tiled vốn gây nhiều tranh cãi. Nhưng Samsung lại cho biết, ma trận điểm ảnh Pen Tiled vốn giúp điểm ảnh màu xanh dương sống thọ hơn.
[​IMG] 

Ma trận RGB bên trái và PenTile bên phải
Super AMOLED Plus đã quay trở lại với cách sắp xếp 3 màu RGB truyền thống (Samsung gọi là Real-Stripe) nhưng bạn cứ hãy gọi RGB cho nó hợp chuẩn và ai cũng hiểu. Việc thể hiện đúng RGB sẽ giúp cho màn hình Super AMOLED Plus chứa nhiều sub pixel hơn 50% so với thế hệ cũ đồng thời ít bị ám màu xanh hơn hiện tại. Theo Samsung thì công nghệ mới của họ sẽ giúp màn hình mỏng hơn, sáng hơn trong khi tiêu thụ ít hơn 18% năng lượng so với Super AMOLED.
[​IMG] 

Khác biệt về chất lượng hiển thị của Plus và không Plus :D
Tuy nhiên, hiện nay nhắc đến Samsung, chúng ta không thể phân biệt nổi các công nghệ màn hình của họ. Mỗi đời sản phẩm là một sự cải tiến về màn hình AMOLED mà ít người biết đến, dù nó vẫn giữ nguyên tên gọi. Với Galaxy S2, là chiếc smartphone duy nhất dùng màn hình Super Amoled Plus. Đến Galaxy S 3 và Galaxy Note II Samsung đã quay trở lại dùng Super Amoled. Tuy nhiên có vài sự khác biệt nhỏ, S 3 dùng SA Pen tiled HD, trong khi Note II dùng S.A RGB kiểu mới.
[​IMG]
Đến thời Galaxy S 4 và Galaxy Note 3. Samsung lại không dùng ma trận RGB như Note II mà sử dụng ma trận diamond Pixel để tăng mật độ điểm ảnh lên Full HD, giúp cho Super Amoled có chất lượng hiển thị tốt nhất từ trước đến nay. Riêng Note 3 đã khắc phục được điểm yếu về độ sáng so với các màn hình LCD (lên đến 660 nits).
[​IMG] 

Ma trận điểm ảnh kim cương của Galaxy S 4 và Galaxy Note 3
Các loại OLED khác
OLED trong suốt
OLED trong suốt được cấu tạo hoàn toàn từ các thành phần trong suốt. Khi một OLED trong suốt được bật lên, nó sẽ cho phép ánh sáng phát ra theo cả hai hướng. Một OLED trong suốt có thể là kiểu ma trận thụ động hoặc ma trận chủ động. Công nghệ OLED này có thể được dùng làm màn hiển thị trên kính ô tô hay máy bay (head-up display).

[​IMG]
OLED phát sáng đỉnh
Các OLED phát sáng đỉnh có một tấm nền đục hoặc có thể phản xạ. Các OLED này phù hợp nhất với kiểu thiết kế ma trận động. Các nhà chế tạo có thể sử dụng các OLED phát sáng đỉnh trong các thẻ thông minh.

[​IMG]
OLED gấp được
OLED gấp được có tấm nền làm từ các lá kim loại mềm dẻo hoặc làm từ nhựa. Các OLED gấp được rất nhẹ và có tuổi thọ cao. Khi được dùng trong các thiết bị như điện thoại di động hay PDA, tình trạng vỡ màn hình sẽ không còn xảy ra. Có khả năng các màn OLED sẽ trở thành chất liệu cho các bộ quần áo thông minh khi các bộ quần áo này được tích hợp các chip máy tính, điện thoại di động, bộ thu GPS và màn hình OLED.

[​IMG]
OLED trắng
OLED trắng phát ra ánh sáng trắng sáng hơn, đồng nhất hơn và hiệu quả năng lượng hơn ánh sáng phát ra bởi đèn huỳnh quang. Các OLED trắng cũng có chất lượng ánh sáng của đèn sợi tóc. Do các OLED có thể chế tạo thành các tấm lớn nên chúng có thể dùng để thay thế các đèn huỳnh quang hiện đang được dùng nhiều trong các toàn nhà và căn hộ. Việc sử dụng các OLED trắng có thể giảm đám kể năng lượng cho việc chiếu sáng.

[​IMG]
OLED trắng có thể dùng thay cho các đèn chiếu sáng thông thườn
Ưu và nhược điểm của OLED
Các ưu điểm của OLED
Công nghệ LCD hiện là lựa chọn số một trong các thiết bị nhỏ và cũng rất phổ biến trong các TV màn hình lớn. Công nghệ đèn LED thường được dùng để tạo thành các chữ số trên các đồng hồ điện tử và các thiết bị điện tử khác. Công nghệ OLED đưa ra rất nhiều ưu điểm so với các công nghệ trên:

  • Các lớp hữu cơ nhựa của OLED mỏng hơn, nhẹ hơn và mềm dẻo hơn các lớp tinh thể của LED hay LCD.
  • Bởi vì các lớp phát quang của OLED nhẹ hơn nên tấm nền của OLED có thểmềm dẻo thay vì cứng rắn. Tấm nền của OLED có thể làm bằng nhựa thay vì bằng thủy tinh được dùng cho LED và LCD.
  • OLED sáng hơn LED. Bởi vì các lớp hữu cơ của OLED mỏng hơn nhiều các lớp tinh thể vô cơ tương ứng của LED nên các lớp phát quang và lớp dẫn của OLED có thể chế tạo thành nhiều lớp. Thêm nữa, LED và LCD cần dùng thủy tinh để hỗ trợ và thủy tinh lại hấp thụ một phần ánh sáng trong khi OLED lại không cần dùng thủy tinh.
  • OLED không cần chiếu sáng nền như LCD. LCD hoạt động bằng cách chặn các vùng ánh sáng của đèn nền để tạo thành hình ảnh, trong khi OLED tự phát sáng. Bởi vì OLED không cần chiếu sáng nền nên chúng tiêu thụ ít điện năng hơn nhiều so với LCD (hầu hết điện năng cho LCD dùng cho chiếu sáng nền). Ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với các thiết bị sử dụng pin như điện thoại di động, PDA hay máy tính xách tay.
  • OLED được chế tạo dễ dàng hơn và có thể được làm thành các tấm có kích thước lớn. Bởi vì OLED chủ yếu là nhựa dẻo, chúng có thể được làm thành các tấm rộng và mỏng. Với LED hay LCD điều này là rất khó khăn.
  • OLED có góc nhìn rộng hơn, vào khoảng 170°. Do các LCD hoạt động bằng cách chặn ánh sáng nên chúng có một tầm nhìn hạn chế ở những góc nhìn nhất định. Các OLED tự phát ra ánh sáng nên chúng có một góc nhìn rộng hơn nhiều.
Các nhược điểm của OLED
OLED có vẻ là một công nghệ hoàn hảo cho mọi kiểu hiển thị, tuy nhiên chúng cũng bộc lộ một số vấn đề:

  • Thời gian sống - trong khi các tấm film OLED xanh và đỏ có thời gian sống lâu (khoảng 10 000 đến 40 000 giờ), thì các tấm film xanh da trời hiện tại có thời gian sống ít hơn nhiều (chỉ khoảng 1000 giờ).
  • Chế tạo - Hiện tại các công đoạn chế tạo vẫn còn rất đắt.
  • Nước - nước có thể dễ dàng làm hỏng OLED.
Công nghệ OLED hiện nay đã phát triển đến độ phân giải 4K trên các ti vi của Samsung, LG và Panasonic, tuy nhiên nó mới chỉ ở dạng phòng thí nghiệm.
Bước tiến mới của OLED: PhoLED hay OLED QLED?
PHOLED là OLED lân quang (phosphorescent OLED – PHOLED). Đây là công nghệ OLED nhưng tiết kiệm năng lượng gấp 4 lần so với các công nghệ OLED huỳnh quang trước đó. OLED là các thiết bị dạng khối và rắn, bao gồm nhiều tấm phim hữu cơ mỏng kẹp giữa 2 tấm phim mỏng dẫn điện cực. Khi điện chạy qua OLED, các vật mang điện (lỗ trống và electron) được đưa từ các điện cực đến các tấm phim hữu cơ mỏng. Sau đó, dưới tác động của điện trường, các vật mang điện này đi qua thiết bị, cho đến khi chúng hợp nhất thành các exiton. Sau khi hình thành, các exiton này giải tỏa năng lượng bằng cách tỏa nhiệt hoặc phát quang.
[​IMG]
Với hiệu suất của công nghệ huỳnh quang trước đây, chỉ 25% năng lượng exiton được dùng để phát sáng, 75% sẽ tỏa thành nhiệt. Bằng cách sử dụng một số chất liệu lân tinh nhất định, các đối tác của Universal Display tại Đại học Princeton và Đại học Nam California vào cuối những năm 90 đã khám phá ra rằng 100% năng lượng exiton có thể chuyển đổi thành ánh sáng. Phát hiện này là một bước đột phá lớn. Nó có nghĩa rằng OLED có thể tiết kiệm năng lượng gấp 4 lần so với trước đó. Điều này khiến OLED có khả năng cạnh tranh với màn hình LCD ngày nay cũng như chiếu sáng bằng huỳnh quang/sợi đốt trong tương lai.
Các tính năng và khả năng hiển thị
Công nghệ OLED lân quang (PHOLED) mang tên UniversalPHOLED của hãng Universal Display cùng với các vật liệu đoạt giải thưởng khác đem lại khả năng tiêu thụ năng lượng thấp cho màn hình OLED. Với hiệu suất chiếu sáng cao hơn 4 lần so với vật liệu OLED huỳnh quang, PHOLED đồng thời cũng giảm nhiệt và tăng số lượng cách xếp bảng nối AMOLED. Những thế mạnh của PHOLED cho phép OLED cạnh tranh với LCD và các nguồn chiếu sáng đang có.
[​IMG]
Universal Display tiếp tục nghiên cứu và cải tiến công nghệ Universal PHOLED cùng các vật liệu. Như hình dưới đây, hãng đã làm nên những cải tiến về hiệu suất chiếu sáng và thời lượng sử dụng cho rất nhiều hệ thống hiển thị ở SID 2012. Ngoài ra, nhờ công nghệ mới, màu xanh lục và màu đỏ rất thân thiện với năng lượng trong nhiều điều kiện hoạt động khác nhau, trong khi đó màu xanh tiếp tục được cải thiện. Hệ thống phát xạ OLED lân tinh xanh nhạt được cải tiến giúp tăng gấp đôi tuổi thọ và thời lượng sử dụng cho các thiết bị OLED trong cả việc hiển thị lẫn chiếu sáng. Đối với chức năng chiếu sáng, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm thương mại ban đầu khi yếu tố sử dụng năng lượng hiệu quả được đặt lên hàng đầu.

Hệ thống mới cũng nâng cấp chất lượng hiển thị khi sử dụng đến điểm ảnh phụ thứ 4. Công nghệ PHOLED và các vật liệu được chế tạo phù hợp với quá trình sử dụng thực tế thông qua nhiều công đoạn sản xuất. Rất nhiều vật liệu PHOLED đã được thử nghiệm bằng các trang thiết bị bay bốc nhiệt chân không VTE để sẵn sàng cho giai đoạn sản xuất hàng loạt. PHOLED cũng tương thích với công nghệ OVPD (organic vapor phase deposition), cảm ứng nhiệt laser (Laser induced thermal imaging – LITI) cùng với nhiều phương pháp tiên tiến khác như in mực phản mực hiện đang trong giai đoạn nghiên cứu phát triển. PHOLED là giải pháp thân thiện môi trường tuyệt vời dành cho hiển thị và chiếu sáng. Với khả năng tiết kiệm năng lượng, PHOLED làm giảm nhu cầu tiêu thụ điện năng và các nhiên liệu hóa thạch không thể tái tạo. Hơn nữa, OLED sẽ làm giảm đáng kể lượng chất thải công nghiệp so với màn hình CRT và ống đèn huỳnh quang.
Tiêu thụ điện năng
Công nghệ UniversalPHOLED và các vật liệu đã được công nhận là yếu tố quyết định dẫn đến việc OLED được sử dụng trên các thiết bị di động chạy bằng pin như smartphone hoặc thậm chí cả TV, chiếu sáng trắng. Để minh họa cho thế mạnh này, Universal Display đã so sánh UniversalPHOLED với màn hình AMLCD thông thường. Với một màn hình kích thước 4 inch, độ tương phản 300cd/m2, lượng năng lượng tiết kiệm rất đáng kể.Sản sinh ít nhiệt
Bởi các năng lượng điện nếu không chuyển hóa thành quang năng sẽ chuyển thành nhiệt năng, việc hiển thị và chiếu sáng nói chung sẽ làm tăng nhiệt khi hoạt động. Việc tăng nhiệt này càng trở nên rõ ràng với TV OLED cỡ lớn hay đèn bàn. Công nghệ PHOLED sẽ làm giảm đáng kể mức tăng này. Ví dụ, độ tăng nhiệt của một TV FL-OLED là khoảng 30°C, trong khi đó với PHOLED con số đó chỉ là 10-17°C (thử nghiệm trên màn hình AMOLED 40 inch). Nhiệt độ thấp trong quá trình hoạt động là hết sức quan trọng. Nó kéo dài tuổi thọ OLED bởi mức độ xuống cấp chất lượng thiết bị tỉ lệ thuận với độ tăng của nhiệt. Nó cũng làm giảm lượng gió để tản nhiệt. Tất cả khiến công nghệ PHOLED trở thành yếu tố quan trọng đối với bất kì nỗ lực xây dựng môi trường xanh nào.Khả năng tương thích với các thiết kế bảng nối
Ngày nay, công nghệ bảng nối silic vô định hình (Amorphous Silicon – a-Si) đang được áp dụng đối với AMLCD bởi chi phí sản xuất thấp. Trong khi đó, công nghệ silic đa tinh thể nhiệt độ thấp (Low temperature polycrysanlline silicon - LTPS) mới hơn sử dụng các phương thức sản xuất phức tạp nên giá thành sản xuất cao hơn. Bù lại, LTPS cho chất lượng hiển thị cao hơn bởi các vật chất mang điện linh động giúp việc đi mạch có thể được tích hợp thẳng vào chất nền làm giảm chi phí đặc biệt là các màn hình cỡ nhỏ.
[​IMG]
Ngoài ra, các bóng bán dẫn LTPS nhỏ hơn so với của a-Si giúp đơn giản hóa quy trình sản xuất các màn hình độ phân giải cao. Tính linh động cao hơn của LTPS là cần thiết để đáp ứng yêu cầu cao về dòng điện. Mọi thứ thay đổi kể từ khi PHOLED được chế tạo. Dòng diện thấp của PHOLED giảm yêu cầu đối với bảng nối TFT, khiến nó thậm chí trở nên linh động hơn nữa. Kết quả là công nghệ PHOLED đã giúp việc đưa bảng nối a-Si vào màn hình cỡ lớn trở thành hiện thực. Trong tương lai, có thể PHOLED còn giúp cải tiến TFT hữu cơ giá thấp.
Ngoài ra, các hãng đang rất tích cực theo đuổi khả năng sử dụng TFT oxit kim loại cho bảng nối hiển thị. Một lần nữa, lượng tiêu thụ điện năng thấp của PHOLED giảm lượng điện năng tiêu thụ của bảng nối. Kết quả là công nghệ PHOLED mới sẽ hoạt động rất tốt với công nghệ TFT oxit kim loại khi nó đủ điều kiện để đưa vào sản xuất.
Công nghệ QLED
Đến đây bạn có thể đau đầu rồi phải không? Nhưng hãy tìm hiểu nốt QLED nhé
QLED là công nghệ màn hình chấm lượng tử được phát triển bởi LG, QD Vision và Samsung.
[​IMG]
[​IMG]
QLED có thể chế tạo dựa trên nền OLED hoặc LCD. Với OLED QLED, nó giúp tiết kiệm điện hơn 50% so với màn hình OLED thế hệ cũ.
Chấm lượng tử có cấu trúc không chiều, là một hạt nhỏ có kích thước tính theo nanomet (2-10nm) và người ta có thể điều khiển sự tương tác giữa các chấm lượng tử này một cách chính xác. Trong quamtum dot thì electron được giam giữ 3 chiều giống với các nguyên tử nên nó thường được gọi là siêu nguyên tử hay nguyên tử nhân tạo. Tuy nhiên, điểm nổi bật của quantum dot là nó có thể thay đổi hình dạng, kích thước cũng như số lượng electron, từ đó ta có thể mô phỏng toàn bộ bảng hệ thống tuần hoàn.
Quay trở lại với QLED, màn hình này có gì mà lại hứa hẹn đến thế? LG cho biết các màn hình QLED chưa hoàn thiện hiện tại đã vượt quá bảng màu NSTC mà không cần phải sử dụng các bộ lọc màu. QLEDS cũng có độ sáng cao hơn từ 30-40% so với công nghệ OLED hiện tại, để cho một màn hình OLED đạt được mức độ màu như QLED thì nó buộc phải sử dụng các bộ lọc màu vốn làm suy giảm tín hiệu.

QLED cũng tiêu thụ ít điện năng hơn 2 lần so với OLED. Chi phí sản xuất cũng thấp hơn vì QLED không yêu cầu bất cứ bộ lọc, đèn nền hay các lớp kính tăng cường nào khác. Cuối cùng, QLED cũng có thể được dùng để chế tạo các màn hình dẻo như OLED hiện tại, lớp QLED rất mỏng, chỉ khoảng vài trăm nm nên có thể dễ dàng phủ lên các tấm plastic hay lá kim loại.
Màn hình OLED QLED vẫn còn trong vòng thử nghiệm, và mới đây, Samsung đã chế tạo thành công QLED Full Colors. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Top